Quế là vị dược liệu quý dùng cả tây y và đông y
-
Vị thuốc Quế chi
- Giải biểu tán hàn, dùng để chữa các bệnh cảm mạo phong hàn, biểu hiện sốt cao, có rét run, không đổ mồ hôi. Khi dùng có thể phối hợp với Ma hoàng trong bài Ma hoàng thang hoặc Quế chi thang.
- Làm thông dương khí khi dương khí bị ứ trệ, dẫn đến phần nước trong cơ thể bị ngưng đọng gây phù nề. Hoặc dùng trong chứng đờm ẩm, khí huyết lưu thông kém.
- Làm ấm kinh thông mạch, dùng điều trị các bệnh phong hàn, thấp trệ dẫn đến đau nhức xương khớp. Có thể phối hợp với bạch chỉ.
- Hành huyết giảm đau, dùng trong các trường hợp bế kinh đau bụng, thống kinh, phối hợp với xuyên khung, đương quy, ngô thù du, xích thược. Trường hợp thai chết lưu phối hợp với xạ hương, đau bụng do lạnh phối hợp với hương phụ.
- Làm ấm thận hành thủy: dùng cho chức năng thận suy yếu, tiểu tiện bí tức. Khi hen suyễn thì phối hợp với mộc thông, uy linh tiên.
Liều dùng: 4- 20 g.
- Vị thuốc nhục quế
- Dùng để hồi dương trong các trường hợp thận dương hư nhược, chân tay lạnh giá, co quắt.
- Khử hàn giảm đau, thông kinh hoạt lạc. Dùng cho người đau bụng dữ dội do hàn nhập lý, tiết tả, nôn mửa.
- Ấm thận hành thủy. Dùng cho trường hợp dương khí hư nhược, phù thũng tiểu tiện khó khăn, nhất là phù nặng bàn chân.
- Trị chứng nôn ỉa nhiều, quyết nghịch hư thoát: bài Tam khí đơn: Nhục quế 3g, Lưu hoàng 3g, Hắc phụ tử 10g, Can khương 3g, Chu sa 2g, chế thành viên, mỗi lần uống 3g ngày 2 lần với nước sôi ấm.
- Quế linh hoàn gồm: Nhục quế 3g, Mộc hương 3g, Can khương 5g, Nhục đậu khấu và Chế phụ tử đều 9g, Đinh hương 3g, Phục linh 9g, chế thành hoàn mỗi lần uống 8g, ngày 2 – 3 lần với nước ấm. Trị đau bụng tiêu chảy do tỳ thận dương hư.
- Vị thuốc Quế tâm: